Tập thể lớp 8A THCS Lê Ngọc Hân
Chúc các Member của diễn đàn 8A THCS Lê Ngọc Hân có một ngày tươi đẹp, tinh thần sảng khoái và luôn nở nụ cười trên môi!!!! ^o^

Tập thể lớp 8A THCS Lê Ngọc Hân

Năm học 2010 - 2011
 
Trang ChínhTrang Chính  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  

Share | 
 

 Vụ án Tể tướng Lê Sát

Go down 
Tác giảThông điệp
littlerose_3297
HS cấp 2
avatar

Tổng số bài gửi : 177
Reps : 194
Join date : 26/09/2009
Age : 21
Đến từ : E.L.F and Wonderful *^_^*

Bài gửiTiêu đề: Vụ án Tể tướng Lê Sát   27/10/2009, 5:54 pm

Mùa hè năm Đinh Tỵ - 1437, dưới triều vua Lê Thái Tông (1434 – 1442), kinh thành Thăng Long xôn xao bởi một vụ án lớn. Tội nhân lại là một vị quan to trong triều, chỉ "dưới một người, đứng trên muôn người". Đó là quan Tể tướng, hàm Đại Tư đồ Lê Sát. Cách đó 8 năm (năm 1429) khi triều Lê lập biển khắc tên 93 vị khai quốc công thần, thì tên của Lê Sát được vinh dự khắc ở hàng thứ hai, chỉ đứng sau Lê Lai - người đã từng hi sinh để cứu Lê Lợi).

Tháng 6 năm 1437, vua Lê Thái Tông xuống chiếu nói rằng:
"Lê Sát chuyên quyền, giết người tài, giết Lưu Nhân Chú để ra oai, truất quyền của Trịnh Khả để mong người khác bái phục, bãi chức tước của Bùi Ư Đài để khiến cho đình thần không ai dám nói… Nay, trẫm muốn khép vào hình luật để tỏ rõ phép nước, nhưng vì Lê Sát là đại thần cố mệnh, có công với nhà nước nên đặc cách khoan tha, song phải bãi hết chức tước"

Một tháng sau (Tháng 7 năm 1437), vua Lê Thái Tông lại phế nguyên phi Lê Thị Ngọc Dao (là con gái của Lê Sát) làm thường dân. Sau đó nhà vua ban tiếp chiếu chỉ thứ hai về Lê Sát:
"Tội của Lê Sát phải đáng giết, không thể dung thứ được. Lẽ phải đem Lê Sát chém để rao, nhưng trẫm đặc ân miễn cho, không giết, duy có Đặng Đắc làkẻ bày mưu cho Lê Sát, làm nguy hại đến xã tắc thì phải chém bêu đầu"

Đến cuối tháng 7, nhà vua lại xét thấy không thể dung tha cho Lê Sát, đã hạ lệnh cho Lê Sát phải tự tử tại nhà, vợ con và điền sản đều bị tịch thu.

Vây Lê Sát là người như thế nào, công lao đến đâu mà lại được làm quan to đến thế. Hơn nữa, ông đã mắc trọng tội gì để đến nỗi bị cái án thảm khốc như vậy?

Sách "Đại Việt thông sử" viết"
"Lê Sát người làng Bỉ Ngũ (Lam Sơn), là bậc trí dũng song toàn. Ông theo vua (Lê) Thái Tổ khởi binh, từng trải nhiều gian lao nguy hiểm, lập được nhiều công lao.

Lê Sát là một trong những người đầu tiên hăng hái tham gia cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ của quân Minh do Lê Lợi khởi xướng và lãnh đạo. Nhờ có võ nghệ rất cao cường lại dũng cảm và giàu mưu lược, ngay từ đầu, Lê Sát đã được Lê Lợi tin cậy mà trao quyền chỉ huy một trong những đơn vị nghĩa sĩ của Lam Sơn. Từ đó trở đi, có thể nói cuộc đời của Lê Sát là cuộc dời của một võ tướng, một lòng một dạ chiến đấu vì nghĩa của cứu nước, cứu dân và tuyệt đối trung thành với Lê Lợi. Ông đã liên tiếp lập được nhiều công lao, góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại đầu thế kỷ thứ XV. Tên tuổi và sự nghiệp của Lê Sát gắn liền với mấy sự kiện lớn sau đây:

Trước hết là sự kiện năm Canh Tý (1420). Bấy giờ, nghĩa quân Lam Sơn đang hoạt động chủ yếu ở vùng rừng núi phía tây tỉnh Thanh Hoá ngày nay. Tuy có ý chí chiến đấu rất kiên cường, nhưng do thế và lực còn non kém Lam sơn luôn luôn bị quân Minh dồn vào thế bị tấn công, bị bao vây tiêu diệt, thậm chí, lắm lúc có nguy cơ bị thất bại hoàn toàn. Dẫu muôn vàn khó khăn chồng chất, Lam Sơn vẫn tổ chức được không ít những cuộc tấn công bất ngờ, gây cho địch những tổn thất không nhỏ. Một trong những cuộc tấn công nổi bật của giai đoạn đầu đầy gian nan này là cuộc tấn công vào Quan Du (Quan Hoá, Thanh Hoá) vào tháng Chạp năm Canh Tý (1420).

Tại Quan Du, quân Minh thiết lập một đồn binh khá lớn, có thành luỹ kiên cố bao bọc ở bên ngoài. Cùng với các đồn Khả Lam và Nga Lạc, đồn Quan Du có nhiệm vụ chặn đứng khả năng mở rộng hoạt động của nghĩa quân Lam Sơn ra khu vực Tây Đô. Bằng nhiều cuộc tập kích nhỏ, Lam Sơn đã buộc quân Minh rút hết lực lượng ở Khả Lam và Nga Lạc về Quan Du, vì thế, tổng số quân Minh đóng ở Quan Du đã lên tới hàng ngàn tên. Sau nhiều lần khiêu khích và tìm cách quấy rối, khiến cho quân Minh trong đồn này đã thực sự mệt mỏi. Lê Lợi phái các tướng Lê Sát và Lê Hào, táo bạo đem quân tập kích ồ ạt vào Quan Du. Đây là trận có quy mô lớn vào hàng bậc nhất trong giai đoạn thứ nhất của phong trào Lam Sơn. Trong trận này, các nghĩa sĩ Lam Sơn do Lê Sát và Lê Hào chỉ huy đã[i] phá được giặc, chém được hơn một ngàn tên, thu được rất nhiều vũ khí. Thắng lợi của trận Quan Du có ý nghĩa nâng cao tinh thần chiến đấu của lực lượng Lam Sơn và cổ vũ mạnh mẽ đối với nhân dân vùng tạm bị quân Minh chiém đóng. Sử cũ chép:

"Từ đấy, thế giặc ngày một suy. Nhà vua bèn phủ dụ và chiêu mộ nhân dân các xứ. Các huyện lân cận đều hưởng ứng, cùng nhau vây đánh các đồn" (Đại Việt sử ký toàn thư")

Phía giặc có hai tướng sừng sỏ là Tạ Phương và Hoàng Thành, có quân số đông, có thành luỹ kiên cố, có lương thực và vũ khí dồi dào… nhưng, đã phải cam chịu thất bại trước hai tướng của Lam Sơn là Lê Sát và Lê Hào, trong tay chỉ có một đơn vị nghĩa binh nhỏ, lương thực và vũ khí thiếu thốn, lại chẳng có thành cao hay hào sâu để nương tựa. Từ đây, tên tuổi của Lê Sát luôn được Bộ chỉ huy và nghĩa sĩ Lam Sơn nhắc đến với lòng mến phục.

Tiếp theo là kiện năm Giáp Thìn (1424). Năm này, theo đúng kế hoạch chiến lược do Nguyễn Chích khởi xướng, Bộ chỉ huy Lam Sơn quyết định chủ động tấn công vào Nghệ An, mở rộng địa bàn hoạt động, tìm đất đứng chân và chấm dứt hẳn thời kỳ tạm thời hoà hoãn với quân Minh. Một trong những trận lớn của quân Lam Sơn ở Nghệ An là trận Khả Lưu - Bồ Ải.

Bấy giờ, Lam Sơn đã chiếm được Trà Lân và khống chế được phần lớn đất Nghệ An. Tướng giặc là Trần Trí và Phương Chính tức tối đưa quân đi đàn áp, dự tính là sẽ bất ngờ tấn công vào Trà Lân. Nhưng, khi chúng đang hăm hở tiến thì có tin do thám cho hay, quân Lam Sơn đã đến chiếm Khả Lưu và đã hạ trại chỉnh tề tại đó. Chiếm Khả Lưu cũng có nghĩa làm Lam Sơn đã chiếm được vùng đất hiểm, án ngữ ngay đường đến Trà Lân. Âm mưu tạo sự bất ngờ của Trần Trí và Phương Chính kể như tiêu tan. Trước tình huống này, Trần Trí và Phương Chính liền cho quân hạ trại ở bãi Phá Lữ là một địa điểm nằm ở phía ngoài ải Khả Lưu. Bãi này, nay thuộc xã Phúc Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Tại đây, chúng ra sức bàn mưu tính kế, quyết chiếm cho bằng được ải Khả Lưu, vì chỉ có chiếm được ải Khả Lưu mới có thể tiến vào được Trà Lân.

Khả Lưu đúng là đất hiểm, nhưng, tại đất hiểm này, lương thực và thực phẩm rất thiếu thốn, Lam Sơn không thể bám trụ lâu ngày ở đấy được. Vấn đề đặt ra hàng đầu đối với Lam Sơn là phải nhanh chóng nhử địch vào một trận đồ mai phục để có thể đập tan kế hoạch của chúng. Và, Lê Lợi dã quyết định rút phần lớn lực lượng đi ém sẵn tại Bãi Sở. Đất này ngày nay thuộc xã Long Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Lê Sát và một trong những tưóng có vinh dự được cầm quân đi bày bố trận địa trước ở đấy. Một bộ phận nhỏ của Lam Sơn có nhiệm vụ ở lại Khả Lưu để giương cờ, gióng trống và nổi lửa, cốt đánh lạc hướng kẻ thù. Bởi nôn nóng muốn đánh chiếm Khả Lưu, Trần Trí, Phương Chính đã mắc mưu Lê Lợi. Sau bốn ngày đóng tại bãi Phá Lữ, Trần Trí và Phương Chính bất thình lình cho quân đánh vào Khả Lưu. Sử cũ mô tả:

"Trời gần sáng, giặc xua quân thuỷ bộ cùng tiến đánh vào dinh trại của Vua (chỉ Lê Lợi). Vua bèn giả lui quân để nhử chúng vào chỗ có quân ta mai phục. Giặc không chút nghi ngờ, cứ thế, tiến vào thật sâu. Bấy giờ, phục binh ta mới nổi dậy, xông vào đánh tới tấp. Giặc tan vỡ, bị chém chết và bị chết đuối kể có đến hàng vạn" (Lam Sơn thực lục)

Sau khi thua trận này, Trần Trí và Phương Chính lại rút quân về đóng ở bãi Phá Lữ như cũ. Về phần mình, Lê Lợi cũng cho rút quân về Khả Lưu, tu chỉnh dinh trại và đồn luỹ, chuẩn bị cho trận đánh mới với quân Minh. Nhưng, đóng quân lâu dài ở Khả Lưu, đối với Lam Sơn là điều khó khăn không dễ gì khắc phục được. Một viên tướng của Lam Sơn, quê ở Nghệ An là Nguyễn Vĩnh Lộc bàn rằng: hãy giả đốt dinh trại, vờ như để rút quân, cốt để giặc mắc mưu mà đánh thì chắc sẽ thắng lớn. Lê Lợi và Bộ chỉ huy Lam Sơn đồng ý với ý kiến của Nguyễn Vĩnh Lộc.

Sách "Lam Sơn thực lục" tả về trận này như sau"
"Vua Lê Lợi liền hạ lệnh đốt hết dinh trại và nhà cửa rồi giả cách rút lên vùng thượng lưu, nhưng sau đó thì bí mật quay trở lại đặt phục binh để chờ. Giặc tưởng là quân ta đã bỏ chạy, liền vội cho quân lên chiếm lấy khu dinh trại của ta, đắp thành xây luỹ (đễ giữ lấy chỗ hiểm). Nhưng, Vua đã nhân đêm tối, bố trí xong phục binh. Giặc không ngờ, vừa tiến đến thì bị quân ta xông ra. Bọn Lê Sát, Lê Bị (tức Bùi Bị), Lê Vấn (tức Phạm Vấn), Lê Lễ (tức Đinh Lễ), Lê Nhân Chú (tức Lưu Nhân Chú), Lê Ngân, Lê Chiến (tức Trương Chiến), Lê Tôn Kiều, Lê Khôi, Lê Bôi, Lê Văn An,… đều đua nhau lên trước để phá thế của giặc. Giặc thua to, bỏ chạy tán loạn. Ta chém được nhiều không kể xiết. Chiến thuyền của chúng ngổn ngang, xác chết nghẽn cả nước, khí giới vất như núi, như gò. Trong trận này, ta bắt sống được tưóng giặc là Chu Kiệt và giết được tướng giặc là Hoàng Thành, bắt sống được hơn một ngàn quân Minh. Ta thừa thắng, đuổi chúng chạy dài đến tận thành Nghệ An. Giặc vội vào thành để cố thủ"

Như vậy là, Lê Sát và Hoàng Thành có cuộc giáp mặt lần thứ hai. Ở trận Quan Du, Hoàng Thành bị Lê Sát đuổi cho chạy thục mạng. Đến trậnKhả Lưu - Bồ Ải, Hoàng Thành bị chém đầu. Hẳn nhiên, đó là thắng lợi chung, nhưng trong thắng lợi chung đó, Lê Sát có công lao rất lớn.

Sau trận Khả Lưu - Bồ Ải, Lê Sát được Lê Lợi tin cậy, sai ông cùng với Đinh Lễ, đem 2.000 quân theo đường tắt, tiến ra tấn công và uy hiếp thành Tây Đô (Thanh Hoá), mở đường cho đại binh Lam Sơn ra giải phóng sau này.

Năm Đinh Mùi (1427), nhờ có nhiều công lao, Lê Sát được được phong hàm Thiếu Uý*. Trước đó, quân Lam Sơn đã thắng trận quyết chiến chiến lược ở Tốt Động – Chúc Động. Từ Thanh Hoá, sau khi nhận được tin đại thắng báo về, Lê Lợi và Bộ chỉ huy Lan Sơn đã gấp tiến ra Bắc. Lê Sát cũng được lệnh nhanh chóng hành quân ra trong dịp này. Tháng 10 năm 1427, Lam Sơn chuẩn bị đánh trận cuối cùng với quân Minh. Lê Sát được Lê Lợi và Bộ chỉ huy Lam Sơn, chỉ định, cùng với Trần Nguyên Hãn, gấp rút đem quân lên hạ thành Xương Giang, phá tan chỗ dựa nguy hiểm của viện binh giặc từ phía Lạng Sơn tràn xuống. Trước khi lên đường, Lê Sát đã được phong hàm Tư mã, còn Trần Nguyên Hãn thì được phong hàm Thiếu Uý. Lê Sát và Trần Nguyên Hãn đã lập công xuất sắc: san bằng thành Xương Giang đúng mười ngày trước khi viện binh của giặc tiến đến vùng này.

Tiếp đó, Lê Sát lại cùng với các tướng như Trần Nguyên Hãn, Lưu Nhân Chú và Nguyễn Xí chỉ huy lực lượng Lam Sơn đánh trận tập kích cuối cùng với viện binh giặc tại cánh đồng Xương Giang. Đây là trận Lê Sát lập công lớn nhất:

"Ông cùng các tướng tấn công, phá được trận giặc, chém hơn năm vạn thủ cấp, bắt sống Đô đốc Thôi Tụ, Thượng thư Hoàng Phúc và hơn ba vạn quân địch. Quân trang khí giới thu được nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Nước Nam ta, từ thời Trần bắt được Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ cho đến lúc ấy, có lẽ chưa có trận thắng quân phương Bắc nào lại to lớn như vậy" (Đại Việt thông sử – Chư thần truyện)

Do có những công lao nói trên, năm Thuận Thiên thứ nhất (tức 1428) Lê Sát được phong là Nhập nội kiểm hiệu Tư khấu, Bình chương quân quốc trọng sự, hiệu là Suy trung tán trị, Hiệp trung, Mưu quốc công thần. Năm 1429, ông được phong tước Huyện Thượng hầu. Đến năm 1433, Lê Sát được phong hàm Đại Tư đồ.

Năm 1434, Lê Sát được trao quyền Tể tướng. Đó chính là tột đỉnh danh vọng của ông.

Lê Sát là người rất có tài, đặc biệt là tài cầm quân, nhưng ông thường khiến cho người ta sợ mà theo nhiều hơn là khiến cho người ta phục mà theo. Ông được trao quyền cao chức trọng, nhưng về phương diện chính trị, ông không phải là người sâu sắc. Sách "Đại Việt thông sử" viết:

"Ông hăng hái lo tròn bổn phận phò vua và sửa sang các việc, dám can gián và nói điều ích nước, nhưng, ông là võ tướng, ít hiểu đại thể chính trị, xử việc thường theo ý riêng, tính thẳng thắn nhưng làm mà ít nghĩ đến hậu hoạ. Lại nữa, ông là người nóng tính, và ghét Tư khấu Lưu Nhân Chú nên đã kiếm cớ vu cáo để giết đi, lại còn đang tâm mà đuổi cả người em của Lưu Nhân Chú là Lưu Khắc Phục đang làm Hành kiển Nam Đạo phải đi làm Phán thủ Đại Lý Chính, do đó, các công thần đều ghê sợ. Ông thường dùng hình phạt rất nặng nề, nghiêm khắc và tàn bạo. Giám sinh Nguyễn Đức Minh theo gia đình trường Giám, thấy có lá thư nặc danh dán ở trên tường một ngôi chùa dọc đường, trong thư nói Đại Tư đồ Lê Sát và Đô đốc Phạm Vấn cùng lập mưu để giết Phán Quan Sĩ (tức Lưu Nhân Chú). Anh ta bô bô gọi mọi người tới xem, song thì lấy xé bỏ đi. Có người đến tố cáo chuyện đó với Lê Sát, ông cho rằng chính viên Giám sinh ấy viết ra, liền sai bắt để tra khảo nhưng anh ta quyết không nhận. Khi Lê Sát tính đem viên Giám sinh ra chém thì Hình quan cho rằng tội trạng chưa rõ, vì thế Lê Sát giảm tội chết cho anh ta, nhưng bắt phải đi đày và tịch thu hết gia sản.

Người của Uy Viễn Quân là Nguyễn Bẩm cùng với viên Trung quân Thiết Đột là Trình Thọ Lộc thường hay bày kế để rủ rê bọn nô tỳ của nhà nước, đem họ mà dâng cho các quan. Quan Tư mã là Lê Liệt (tức Đinh Liệt) bắt được, liền đem chuyện tâu lên. Lê Sát giận lắm, sai lập tức bắt cả hai ra tra tấn ngay giữa sân điện rồi đem chém.

Ông lại sai điều đám thợ sơn ở Tất Tác Tượng Cục đến làm việc ở chùa Báo Thiên. Công việc thổ mộc rất nặng nề. Có người thợ sơn tên là Cao Sư Đãng do phải làm việc cực nhọc, nên có nói vụng rằng:

- Thiên tử thì thất đức, đến nỗi hạn hán. Đại thần thì ăn của đút, cất cử người chẳng có chút công lao. Thiện tâm đã không có, xây chùa to mà làm gì?

Lời ấy bị người khác tố cáo. Quan Thẩm HÌnh viện là Nguyễn Đình Lịch nói:
- Nó dám nói càn đến việc nước, theo luật là phải đem ra chém đầu.

Các quan Nguyễn Thiên Hựu và Bùi Cầm Hổ tâu xin miễn tội chết cho Cao Sư Đãng, Vua đã sắp nghe theo, nhưng Lê Sát lại nói:

- Trước đã nghe lời bọn Thiên Hựu nên không giết Nguyễn Đức Minh, khiến chúng dám bỏ thư nặc danh vu tội cho nhau, nay lại muốn tha người này thì lấy gì để răn kẻ khác?

Thiên Hựu không dám nói thêm nữa. Lê Sát bèn sai đem Cao Sư Đãng đi chém đầu. Hôm sau, gặp cơn mưa nhỏ, Lê Sát bèn nói ở trong triều rằng:
- Nếu nghe lời của các Ngôn quan thì làm gì có trận mưa này.

Lê Ngân cười nói:
- Giết nhiều kẻ ác thì mưa nhiều, chỉ hiềm là xương người chất đầy đường, khó đi lại thôi.

Chuyện khắc nghiệt của Lê Sát đại để là như thế.
Bấy giờ, quan giữ chức Đồng tri Bắc Đạo là Bùi Ư Đài tâu xin chọn các bậc kỳ lão vào chầu để khuyên răn nhà vua và xin đặt chức Sư Phó để chỉ bảo cho các quan. Lê Sát thấy lời tâu ấy thì giận lắm, xin giao Bùi Ư Đài cho ngục quan xét hỏi, ghép Ư Đài vào tội ly gián vua tôi. Nhà vua không nghe. Lê Sát tâu đi tâu lại đến ba bốn lần mà nhà vua vẫn không chịu. Bọn Thiên Hựu, Cầm Hổ và cả quan Hữu Bật là Lê Văn Linh đều đồng ý với Lê Sát. Nhà vua bất đắc dĩ phải đày Bùi Ư Đài đi xa nhưng lòng vua đã bắt đầu ghét bỏ Lê Sát"

Vua Lê Thái Tông (tên là Nguyên Long) là con thứ của vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi). Khi vua Thái Tông lên làm vua mới có 11 tuổi, cho nên công việc gì cũng do quan Phụ chính là Lê Sát quyết định. Khi vua đã đủ lớn, đã có đầu óc hiểu biết phán đoán, Lê Sát vẫn còn tham quyền cố vị, nhiều lúc muốn lấn át cả vua cho nên vua càng chán ghét ông, muốn loại trừ ông để tự mình thâu tóm quyền hành.

Sự ghét bỏ của vua Lê Thái Tông đối với Lê Sát càng ngày càng rõ, rất tiếc là Lê Sát nhận biết điều này quá chậm. Ông mải mê, say sưa với quyền lực mà quên cả việc đề phòng hậu hoạ. Cuối cùng, đại hoạ thảm khốc đã giáng xuống đầu ông vào mùa hè năm 1437.

Đến năm 1453, dưới triều vua Lê Nhân Tông (1443 – 1459), Nhà vua mới cho ông là bị tội oan, bèn cấp cho con cháu ông 100 mẫu ruộng để thờ tự. Năm 1484, đời vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497), Lê Sát được truy tặng là Thái Bảo, Cảnh Quốc Công

Event - Xứng đáng học trò ngoan
Về Đầu Trang Go down
 
Vụ án Tể tướng Lê Sát
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Tập thể lớp 8A THCS Lê Ngọc Hân :: Học tập :: Khoa học xã hội :: Lịch Sử :: Lịch sử Việt Nam-
Chuyển đến